Facebook

Youtube

Cuốn sách đồng cổ thời nhà Lê

Cuốn sách bằng đồng “Hậu thần thư ký”

Cuốn sách bằng đồng “Hậu thần thư ký” được phát hiện cách mặt đất khoảng 1m, gần di tích đền Nốc thuộc xã Đức Tân, nay là xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và được cán bộ chuyên môn Bảo tàng Nghệ Tĩnh sưu tầm cách đây tròn 43 năm (năm 1977). Sau khi tách tỉnh năm 1991, hiện vật được đưa về bàn giao cho Bảo tàng Hà Tĩnh bảo quản tại kho hiện vật kim loại.

Nét chữ trên sách được viết khá đẹp, công phu.

Cuốn sách được chế tác thủ công khá công phu, hình chữ nhật khổ 15,5cm x 26cm, nặng 3kg, chất liệu bằng đồng lá, bao gồm 19 trang có quy cách trình bày theo hình thức sách cổ. Trang bìa, xung quanh được trang trí hoa văn cúc dây, ở giữa khắc bốn chữ Hán:後神書記 (Hậu thần thư ký) bố trí theo chiều dọc của cuốn sách từ trên xuống dưới.

Cuốn sách được chụp từ ngoài bìa.
Tình trạng sách đồng hiện không nguyên vẹn, mất một số tờ, được sắp xếp lộn xộn, màu nâu xanh do bị ô xy hóa, viền sách rách nhiều miếng nhỏ ở các trang.
Về nội dung, đây cơ bản là bài ký ghi chép lý lịch, công đức của Ngài Hậu thần quan và các nhân vật có liên quan, sau khi tạ thế, được phụng thờ như thần linh phía sau bàn thờ thần ở đình làng Trường Xuân, cụ thể có thể được chia làm 4 phần như sau:
Phần một đề cập đến lý lịch Hậu thần quan và người thân. Hậu thần quan tên thật là Lê Quang Đại, tự là Hoàn Hưu, tước là An Vinh hầu, thụy là Minh Tín. Ông được phong tặng Minh Nghị Tướng quân, Đô Chỉ Huy Sứ Ty, Đô Chỉ Huy Đồng Tri, có vợ chánh thất là bà Võ Lãnh, người xã Bùi Xá, huyện La Sơn, phủ Đức Quang. Bà được phong tặng Huy Nhân, hiệu là Từ Ý. Gia đình ông bà có cuộc sống hạnh phúc, sinh được cả trai và gái, con cháu phồn thịnh, gia tộc vinh hiển.
Trưởng nữ là Quận phu nhân Lê Thị Hưng, được tuyển cung hầu cận, lo việc nội thị. Quận phu nhân là người hiếu thảo luôn nghỉ đến cha mẹ, xóm làng, ban phát vô số ân huệ cho quê nhà. Nhờ đó, tất cả trẻ già trong các giáp của xã An Việt Thượng lấy làm cảm kích nguyện mãi cúng tế về sau khi bà tạ thế. Lê Quang Đại và vợ là bà Võ Lãnh sau khi mất cũng được 4 giáp cúng tế đúng theo nghi lễ.
Phần thứ hai đề cập đến nghi lễ và văn tế Hậu thần quan và người thân và đóng góp của các giáp trong làng Trường Xuân cho việc tổ chức lễ tế vào các dịp tết Nguyên Đán và các ngày chính kỵ của vợ chồng Hậu thần quan. Các lễ tiết đều có người đến từ đường quét dọn.
Mang lễ vật đến từ đường cúng tế đúng nghi thức. Xong lễ, thủ từ mỗi giáp được biếu nửa đầu heo, một bát xôi. Phần còn lại chiếu theo lệ làng ăn uống. Những người đứng ra tế lễ thường được chọn từ những người có uy tín, trọng vọng như giám sinh, sinh đồ, hương lão, xã trưởng, quan viên, nội giám, sắc mục lính binh.
Ngày mồng 2 tháng giêng Tết, giáp Trường Thọ có bổn phận sắm sửa. Ngày 30 tháng Chạp, giáp Thượng Thọ có bổn phận sắm sửa. Ngày mồng 1 tháng Giêng, giáp Chánh Đông có bổn phận sắm sửa. Hàng năm vào ngày 24 tháng 4 là ngày chính kỵ của bà Võ Lãnh.
Bốn giáp trong thôn chuẩn bị sắm sửa 1 con heo giá tiền xưa là 1 quan 500 tiền, xôi 1 mâm trị giá 500 tiền, vàng mã 300 thoi và trầu rượu. Trong nghi lễ ngày chính kỵ soạn văn tế có đoạn: “Kính nhớ Đức Bà, giữ gìn đạo vợ, đầy đủ mẫu nghi, gia đình phúc đức, ơn khắp xóm làng. Nay gặp ngày kỵ, lòng nhớ không thôi. Tế lễ đơn sơ, nghĩa cả sáng ngời. Kính hưởng”.

Hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 7 là chánh kỵ của ngài Hậu thần quan Lê Quang Đại.

Các bước tế lễ cũng tương tư như tế lễ bà Võ Lãnh. Bốn giáp trong thôn mỗi giáp có bổn phận sắm sửa 1 con heo trị giá 1 quan 500 tiền xưa, xôi 1 mâm trị giá 500 tiền, vàng mã 300 thoi và trầu rượu.
Trong văn tế có đoạn: “Kính nhớ Đức Ông, dáng dấp khôi ngô, bẩm chất thuần túy. Danh dậy triều đình, ơn đầy làng xóm. Nay gặp ngày kỵ, lòng nhớ khôn thôi. Tế lễ đơn sơ, nghĩa cả sáng ngời. Kính hưởng”.
Phần thứ ba đề cập đến phần ruộng hương hỏa cho Hậu thần quan Lê Quang Đại và người thân. Phần này trong sách đề cập rất rõ phần diện tích, số ruộng, địa điểm làm hương hỏa, cụ thể:
– 1 sở ruộng 2 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Phan.
– 1 sở ruộng 2 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Lộng (Rộng, Luống)
Giáp Trường Thọ:
– Nhận 100 quan tiền cổ xưa, ruộng tư 1 mẫu.
– 1 sở ruộng 2 sào rưỡi, tọa lạc ở chỗ Đồng Trung (Trong)
– 1 sở ruộng 3 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Chàng
Giáp Chánh Đông:
– Nhận 100 quan tiền cổ, ruộng tư 1 mẫu
– 1 sở ruộng 3 sào, tọa lạc tại chỗ Đồng Phan
– 1 sở ruộng 3 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Cây Lăng (rừng)
– 1 sở ruộng 3 sào, tọa lạc tại chỗ Đồng Cửa Sổ
– 1 sở ruộng 2 sào, tọa lạc tại chỗ Đồng Cửa Ao
– 1 sở ruộng 2 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Cửa Sổ
– 1 sở ruộng 1 sào rưỡi tọa lạc tại chỗ Đồng Đàm
– 1 sở ruộng 1 sào rưỡi tọa lạc tại chỗ Đồng Cập (gặp)
– 1 sở ruộng 3 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Nhà Vàng
– 1 sở ruộng 3 sào tọa lạc tại chỗ Đồng Cây Roi
– 1 sở ruộng 3 sào rưỡi tọa lạc tại chỗ Đồng Mài
Giáp Cường Thạnh: Nhận 100 quan tiền cổ, ruộng tư 1 mẫu.
Phần bốn đề cập đến các địa danh cổ. Theo sách “Hậu thần bi ký”, xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, thời Lê Trung Hưng, vào nữa đầu thế kỷ XVIII có tên là xã An Việt Thượng, huyện La Sơn, phủ Đức Quang. Xã có thôn Trường Xuân chia làm 4 giáp Thượng Thọ, giáp Trường Thọ, giáp Chánh Đông, giáp Cường Thạnh. Các địa danh nôm như Đồng Phan, Đồng Lộng, Đồng Trong, Đồng Chàng, Đồng Cây Lăng, Đồng Cửa Sổ, Đồng Cửa Ao, Đồng Đàm, Đồng Cập, Đồng Nhà Vàng, Đồng Cây Roi, Đồng Mài.
Về niên đại, cuốn sách được biên soạn và khắc trong hai giai đoạn khác nhau. Phần đầu cuốn sách được làm tháng 5 năm Quý Sửu, niên hiệu Long Đức năm thứ 2 (1733), đời vua Lê Thuần Tông. Tác giả phần này là Phó Câu Kê, Kiện Cừ Đội, Công Phiên Điển Thư, Cẩn Thọ Nam. Phần sau được làm vào tháng 5, năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 (1736), đời vua Lê Ý Tông. Nghĩa là hai phần được làm cách nhau 3 năm. Tác giả phần sau là Kiện Cự Đội, Phó Câu Kê, Công Phiên./. Sách được trưng bày tại bảo tàng Hà Tĩnh.
Nguồn: Trần Phi Công
Bình luận